THIEN UY CENTER FOR FENGSHUI

-Training feng shui, certificates are only valid for feng shui students who finish the course.

THIEN UY CENTER FOR FENGSHUI

-Organize feng shui and martial arts certification exams for individuals and units who have needs

THIEN UY CENTER FOR FENGSHUI

-Associating with individuals and organizations operating: feng shui, martial arts, culture and art

THIEN UY CENTER FOR FENGSHUI

-Provide feng shui items

THIEN UY CENTER FOR FENGSHUI

-Receive support for all services and issues related to feng shui yin: tomb, code, spirituality

Translate

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2022

Cổ nhân chỉ 5 nét tướng người gian xảo, vong ơn bội nghĩa, nên tránh xa để phòng đại họa

 Lông mày ngả vàng, đứt đoạn và thưa

Nếu lông mày không có màu đen bình thường mà có màu vàng, mỏng và thưa thì chứng tỏ đây là tướng người vong ơn bội nghĩa, người có suy nghĩ thâm sâu, lòng dạ hẹp hòi, thù dai nhớ lâu.

Còn nếu lông mày bị đứt đoạn thì chứng tỏ người đó rất ích kỷ, thực dụng, dễ kết thù oán vì tiền bạc. Theo nhân tướng học, những người có kiểu lông mày này khi kết giao với người khác thường tính toán hơn thiệt.



Khi chơi với những người có tướng lông mày trên bạn phải cực kỳ cẩn thận, dù bạn có sống tốt đến mấy thì cũng bị người ta tuyệt tình, ghét bỏ, trở mặt bất cứ lúc nào không hay. Đàn ông hay phụ nữ cũng không nên cưới người có tướng lông mày này về chung một nhà.

15
Ảnh minh họa.

Môi mỏng và môi trên nhọn

Nếu môi mỏng thì lòng cũng mỏng, lời nói rất có ý tứ thâm sâu, thích nói xấu người khác, chua ngoa số 2 thì không ai số 1, dễ nổi nóng ngầm, bên ngoài có vẻ cười cười nói nói vui vẻ nhưng bên trong thì thâm độc, nóng nảy.

Nếu môi trên nhọn là tướng người vong ơn bội nghĩa, có thể là người vô duyên nữa, đây được cho là người ích kỷ và xấu tính đến cùng cực.

Bạn đừng tin những lời của họ nói ra vì không biết đâu là thật và đâu là giả. Tướng mỏ nhọn kết hợp với môi mỏng chứng tỏ người này thuộc loại nói nhiều và toàn lời khó tin, hay phóng đại, thích chửi và cáu gắt với những người xung quanh.

Đường chỉ tay hôn nhân quá ngắn

Đường chỉ tay hôn nhân là đường nằm ngay sát mép bàn tay, dưới ngón út. Đường chỉ tay hôn nhân nếu ngắn hơn bình thường thì có nghĩa là người đó không giao du với những người không có giá trị sử dụng.

Dù người khác có sống tốt với bản thân họ đến đâu, một khi đã có hứng thú, người này đương nhiên sẽ trở thành người qua sông và phá bỏ cây cầu, hay còn gọi là loại “qua cầu rút ván”.

Người này còn không đặt nặng chuyện hôn nhân, bạn bè, tình cảm mà coi trọng sự nghiệp hơn. Họ cũng có xu hướng kết hôn muộn hơn bạn bè đồng trang lứa, có thể không cần bạn nhưng lại rất mê tiền.

Quầng mắt thâm bẩm sinh

Người có tướng mắt này sẽ hay đổ lỗi cho người khác khi họ thất bại, thậm chí nghi ngờ hoặc oán giận những người đã tốt với mình trước đây. Khi họ xuống tinh thần, họ đã làm những điều vô ơn.Bạn nên hạn chế chơi thân với những người mà mắt có quầng thâm bẩm sinh, tối màu. Họ là người có tính cách không tốt, hay gặp chuyện rắc rối, tiền tài dù lo lắng nỗ lực thế nào cũng không được như ý. Những người này không chỉ sự nghiệp không như ý mà hôn nhân cũng chẳng hài lòng.

17

Mũi lộ xương, nổi gồ

Mũi lộ xương là mũi ít thịt, gầy, da mỏng, phần sống mũi lộ rõ. Cẩn thận khi ngoại giao, làm bạn với người này. Người có tướng mũi này thường khá tham lam, ích kỷ, chỉ biết tới bản thân mình mà không suy nghĩ cho người khác.

Người này còn dạng người giỏi bày mưu tính kế, lòng dạ nham hiểm, luôn nghi ngờ người khác, đề cao cảnh giác với mọi người và sự việc, thậm chí có khuynh hướng dễ kích động.

Họ nói chuyện úp mở không rõ ràng, thường nói nước đôi, thiếu chính kiến. Nếu lại có cánh mũi mỏng thì rất cực đoan, suy nghĩ bi quan, ai nói gì cũng không muốn nghe, bảo thủ vô cùng tận.

 

Vì vậy mà họ không được nhiều người yêu mến, tin tưởng, con đường sự nghiệp cũng chẳng phất lên được. Phụ nữ có tướng mũi này đỡ gian xảo hơn đàn ông nhưng lại có đường hôn nhân trắc trở, lận đận, hay bị lừa tình.

Các cụ ta dặn chẳng thừa: Người hai má không có thịt không nên kết giao, ai cũng phải nhớ

 Người có gò má hõm nên tránh xa

Người không có thịt trên má thường giống như là một tên trộm. Điều này cũng dựa trên kinh nghiệm. Việc thiếu thịt ở hai má cũng là một khuôn mặt xấu trong sinh lý học. Việc không có thịt ở hai má cho thấy người đó có điều kiện sống kém và không đủ dinh dưỡng, vì vậy những người ở trạng thái này có thể thích tham lam và rẻ tiền.

Nếu bạn phải đối mặt với lợi ích, anh ta có thể không tử tế, vì sở thích phản bội bạn bè, đó là lý do tại sao nói không phù hợp để làm bạn.

Trong nghiên cứu của nhiều học giả vĩ đại cũng đề cập rằng: Những người có ngoại hình như vậy nói chung là cay đắng và khắc nghiệt, khiến mọi người cảm thấy khó chịu.

Vào thời cổ đại, năng suất kém và điều kiện sống của người dân không được tốt lắm. Những người béo tốt thường được coi là may mắn "béo và phước".

nguoi-ma-hop
Ảnh minh họa.

Mặc dù béo là một phước lành, nhưng nếu quá béo cũng là không tốt, vì vậy sau này mới có câu tiếp theo, sau câu "Hai má không có thịt" là câu mặt ngang cũng được coi là tướng xấu.

Người có khuôn mặt thịt ngang là gì? Không phải do béo phì gây ra, bởi vì nếu nguyên nhân là do béo phì, hầu hết những người này lại rất dễ thương. Nhưng khuôn mặt thịt ngang" ở đây đề cập đến cơ mặt. Bởi vì những người này thường có những biểu hiện dữ. Do vậy, theo thời gian, một khuôn mặt ngang cũng được hình thành và cho là xấu.

Mặc dù lời nói của tổ tiên nghe rất đơn giản, nhưng những câu nói này đều từ đúc rút kinh nghiệm, có hàm ý và đầy trí tuệ.

Ngoài ra, có một vài tiêu chí dưới đây sẽ giúp bạn lọc ra những người không đáng tin cậy trong cuộc sống.

Người coi bạn như "chiếc lốp dự phòng": Với kiểu người này, lợi ích lớn hơn tất cả mọi thứ. Kết giao với những người này sớm muộn cũng sẽ bị bán đứng, bởi trong thế giới của họ, bạn bè chỉ là "chiếc lốp dự phòng" khi cần thiết.

 

Những người chỉ hứa suông: Lời hứa được thực hiện giống như danh dự của mỗi người. Một người luôn thất hứa dễ dàng và nhiều lần thất hứa thì không đáng để ai tin tưởng.

Người sống hai mặt: Kiểu người này trước mặt và sau lưng là hai người khác nhau, tuyệt đối không nên kết giao chứ chưa nói đến tin cậy.

Nịnh bợ kẻ mạnh và chà đạp kẻ yếu: Những người luôn giỏi nịnh bợ kẻ mạnh và chà đạp ức hiếp những người yếu thế là dạng người không đáng tin cậy nhất.

nguoi-ma-hop0

Người thích khoe khoang: Người thích khoe khoang bản thân thường khó hết lòng sống với chính người thân của họ chứ chưa nói gì đến bạn bè. Làm bạn với những người này sẽ rất khó chịu và phiền toái.

Những người không ổn định về cảm xúc: Sự ổn định về cảm xúc không đơn thuần chỉ là cảm xúc cá nhân mà còn thể hiện khả năng đáng tin cậy hay không. Những người không ổn định về cảm xúc thường có tâm lý thất thường, giống như "quả bom hẹn giờ", sẵn sàng nổ tung bất cứ lúc nào.

Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2022

“Tháng cô hồn” – Những điều kiêng kị và nên làm

 

Master. Huang Guohui (Hoàng Quốc Huy)

  1. Từ Đạo gia đến Đạo giáo

1.1. Đạo giáo được hình thành trong phong trào nông dân khởi nghĩa vùng Nam Trung Hoa vào thế kỉ II sau công nguyên, cơ sở lí luận của nó là ĐẠO GIA – triết thuyết do Lão Tử đề xướng và Trang tử hoàn thiện (học thuyết Lão-Trang).

Lão Tử người nước Sở (vùng Bách Việt), tên là Nhĩ, tự là Đam (nên còn gọi là Lão Đam), sống vào khoảng thế kỉ Vl-V trCN, gần như đồng thời với Khổng Tử (lớn tuổi hơn Khổng Tử). Ông từng làm quan phụ trách thư viện nhà Chu, sau lui về ở ẩn; không biết mất năm nào, tương truyền về già cưỡi con trâu xanh đi về phía tây vào núi rồi biến mất. Tư tưởng của Lão Tử được trình bày trong cuốn Đạo đức kinh. Sách gồm 81 chương chia làm hai thiên thượng và hạ bàn về Đạo kinh và Đức kinh.

Đạo của Lão Tử là một khái niệm trừu tượng chỉ cái tự nhiên, cái có sẵn một cách tự nhiên: “Người bắt chước Đất, Đất bắt chước Trời, Trời bắt chước Đạo, Đạo bắt chước TỰ NHIÊN”. Nó là nguồn gốc của vạn vật. Đức là biểu hiện cụ thể của đạo trong từng sự vật. Đạo sinh ra vạn vật, nhưng làm cho vật nào thành ra vật ấy và tồn tại được trong vũ trụ là do Đức. Nếu Đạo là cái tĩnh vô hình thì Đức là cái động hữu hình của Đạo. Nếu Đạo là bản chất của vũ trụ thì Đức là sự cấu tạo và tồn tại của vũ trụ.

Sự sinh hóa từ Đạo ra Đức, từ Đức trở về Đạo ở Lão Tử thấm nhuần sâu sắc tinh thần biện chứng âm dương của triết lí nông nghiệp. Được chi phối bởi luật quân bình âm dương, vạn vật tồn tại theo lẽ tự nhiên một cách rất hợp lí, công bằng, chu đáo, và do vậy mà mầu nhiệm. Hợp lí, vì, theo Lão Tử, lẽ tự nhiên giống như việc giương cung, cao thì ghìm xuống; thấp thì nâng lên. Công bằng, vì nó luôn bớt chỗ thừa mà bù vào chỗ thiếu. Chu đáo, vì nó như cái lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó lọt. Bởi vậy mà nó mầu nhiệm tới mức không cần tranh mà chiến thắng, không cần nói mà ứng nghiệm. Mọi sự bất cập hay thái quá (mất quân bình) đều trái với lẽ tự nhiên và, do vậy, sẽ tự điều chỉnh theo luật âm dương chuyển hóa: “Vật hễ bớt thì nó thêm, thêm thì nó bớt”.

Từ đây, Lão Tử suy ra triết lí sống tối ưu là muốn làm việc gì, phải đi từ điểm đối lập, phải vô vi (không làm). Vô vi không có nghĩa là hoàn toàn không làm gì, mà là hòa nhập với tư nhiên, đừng làm gì thái quá. Vì làm thái quá thì theo luật âm dương “vật cực tắc phản”, kết quả thu được còn tệ hại hơn là hoàn toàn không làm gì. Triết lí vô vi áp dụng vào đời sống cá nhân là “chỉ vì không tranh nên thiên hạ không ai tranh nổi với mình”. Áp dụng vào đời sống xã hội, Lão Tử không tán thành lối cai trị cưỡng chế, áp đặt đương thời, ông nói muốn dân yên ổn thì cai trị một nước phải “giống như kho một nồi cá nhỏ”: cá nhỏ nên để yên, không cạo vẩy, không cắt bỏ ruột, khi kho không khuấy đảo – cạo, cắt, khuấy đảo chỉ tổ làm cho cá nát.

1.2. Công lao của Lão Tử chính là đã học thuyết hóa những tư tưởng triết lí của truyền thống văn hóa nông nghiệp phương Nam: ĐẠO chẳng phải cái gì khác ngoài sự phạm trù hóa triết lí tôn trọng tự nhiên; còn ĐỨC chính là sự phạm trù hóa luật âm dương biến đổi. Khổng Tử và Lão Tử đều tiếp nhận sức sống của văn minh nông nghiệp, nhưng trong khi Khổng Tử tìm cách kết hợp nó với văn minh gốc du mục thì Lão Tử dựa hoàn toàn vào nó. Khổng thì “nhập thế”, “hữu vi”, còn Lão thì “xuất thế”, “vô vi”. Không phải không có lí do khi có người coi Lão Tử là “ông tổ triết học của dòng Bách Việt” (Nguyễn Hữu Lương, 1971).

Cũng chính vì học thuyết của Lão Tử xây dựng trên cơ sở triết lí âm dương của văn hóa nông nghiệp là cái mà truyền thống văn hóa gốc du mục chưa hề biết đến cho nên Hegel từng nhận xét rằng tư tưởng của Khổng Tử thì nghèo nàn, còn Lão Tử mới xứng đáng là người đại diện cho tinh thần phương Đông cổ đại.

Không phải ngẫu nhiên mà trong khi Khổng Tử luôn được hình dung như một ông quan phương Bắc mũ cao áo dài thì Lão Tửnhư một ông già nông dân phương Nam chất phác chân đất cưỡi trâu (hình 6.21). Trong khi tiểu sử cụ Khổng được người sau biết rất rõ thì lai lịch cụ Lão mờ mờ ảo ảo. Trong khi Khổng ôm mộng “bình thiên hạ” thì Lão hài lòng với những “nước nhỏ dân ít” như những làng quê mang tính cộng đồng ở bên trong và tính tự trị ở bên ngoài, nhỏ tới mức “nước láng giềng trông thấy nhau, tiếng gà gáy chó sửa cùng nghe”, và tự trị tới mức “dân đến già chết mà không đi lại với nhau”.

Trong khi Khổng Tử dù đã kết hợp tinh hoa của văn hóa nông nghiệp với truyền thống của văn hóa gốc du mục mà Nho giáo của ông vẫn không được dùng thì dễ hiểu là triết lí hoàn toàn dựa trên truyền thống nông nghiệp phương Nam của Lão Tử càng không thể được sử dụng. Lão Tử phàn nàn: “Lời nói của ta rất dễ hiểu, rất dễ làm. Thế mà thiên hạ không ai hiểu, không ai làm”.

1.3. Mãi đến Trang Tử (khoảng 369-286 trCN), học thuyết của Lão Tử mới lại được người đời chú ý. Trang Tử tên thật là Trang Chu, người nước Tống (nay thuộc tỉnh Hà Nam), suốt đời từ chối làm quan, cuối đời sống ẩn dật tại núi Nam Hoa, tư tưởng của ông được ghi lại trong sách Nam Hoa kinh.

Trong lĩnh vực nhận thức, phát triển tư tưởng biện chứng của Lão Tử, Trang Tử đã tuyệt đối hóa sự vận động, xóa nhòa mọi ranh giới giữa con người và thiên nhiên, giữa phải và trái, giữa tồn tại và hư vô, đẩy phép biện chứng tới mức cực đoan thành một thứ tương đối luận.

Một ví dụ rất điển hình cho thuyết tương đối ngụy biện của Trang Tử là câu chuyện Trang Chu hóa bướm ghi trong Nam Hoa kinh: Một hôm Trang Chu chiêm bao thấy mình là bướm, thích chí bay luôn, quên mình là Chu. Chợt tỉnh dậy, ngạc nhiên thấy mình là Chu. Và rồi hoang mang chẳng còn biết Chu chiêm bao thấy mình là bươm hay bướm chiêm bao thấy mình là Chu nữa!

Trong lĩnh vực xã hội, nếu như Lão Tử chỉ dừng ở mức không tán thành cách cai trị hữu vi, thì Trang Tử căm ghét kẻ thống trị đến cực độ; ông không chỉ bất hợp tác với họ mà còn nguyền rủa, châm biếm họ là bọn đại đạo (kẻ trộm lớn): “Kẻ trộm gươm thì chết, người trộm nước thì làm vua chư hầu. Cửa vua chư hầu mà còn có nhân nghĩa nữa sao?”

Nhưng Trang Tử đề xuất biện pháp gì? Ông đã đẩy phép vô vi với chủ trương sống hòa mình với tự nhiên của Lão Tử tới mức cực đoan thành chủ nghĩa yếm thế thoát tục, trở về xã hội nguyên thủy: “Núi không đường đi, đầm không cầu thuyền, muôn vật chung sống, làng xóm liên tiếp cùng ở với cầm thú”.

1.4. Trong cảnh loạn li cuối thời Đông Hán (thế kỉ II), tư tưởng của Lão Tử cộng với chất duy tâm mà Trang Tử đưa vào đã trở thành cơ sở cho việc thần bí hóa đạo gia thành ĐẠO GIÁO. Chủ trương vô vi cùng thái độ phản ứng của Lão-Trang đối với chính sách áp bức bóc lột của tầng lớp thống trị khiến cho Đạo giáo rất thích hợp để dùng làm vũ khí tinh thần tập hợp nông dân khởi nghĩa.

Đạo giáo thờ “Đạo” và tôn Lão Tử làm giáo chủ, gọi là “Thái Thượng Lão Quân”, coi ông là hóa thân của “Đạo” giáng sinh xuống cõi trần. Nếu mục đích của việc tu theo Phật giáo là thoát khổ thì mục đích của việc tu theo Đạo giáo là sống lâu. Đạo giáo có hai phái: ĐẠO GIÁO PHÙ THỦY dùng các pháp thuật trừ tà trị bệnh chủ yếu giúp cho dân thường mạnh khỏe. ĐẠO GIÁO THẦN TIÊN dạy tu luyện, luyện đan, dành cho quý tộc cầu trường sinh bất tử. Kinh điển của Đạo giáo gọi là Đạo tạng; ngoài sách về nghi lễ, giáo lí, Đạo tạng còn bao gồm cả các sách thuốc, dưỡng sinh, bói toán, tướng số, coi đất, thơ văn, bút kí,… tổng cộng lên tới trên năm nghìn quyển.

Đạo giáo khởi đầu bằng Ngũ đấu mễ đạo (Đạo 5 đấu gạo) – một thứ Đạo giáo phù thủy do Trương Đạo Lăng sáng lập. Trương Đao Lăng tu luyện ở vùng núi Tứ Xuyên, ông lấy Lão Tử làm ngọn cờ, dùng bùa chú và phương thuật, nước phép và cỏ dại chữa bệnh để thu hút mọi người vào đạo nhằm chống lại các thế lực phong kiến Đời Tam Quốc, Trương Giác cũng dùng các phương thuật, bùa phép để tập hợp nông dân tiến hành khởi nghĩa Hoàng cân (nghĩa quân đầu chít khăn vàng làm dấu hiệu) chống lại chế độ cai trị đương thời.

Đạo giáo thần tiên hướng tới việc tu luyện thành thần tiên trường sinh bất tử. Tu tiên có hai cách: nội tu và ngoại dưỡng. Ngoại dưỡng là dùng thuốc trường sinh, gọi là kim đan (hay linh đan, thu được trong lò bằng cách luyện từ một số khoáng chất như thần sa, hùng hoàng, từ thạch, vàng). Nội tu là rèn luyện thân thể, dùng các phép tịch cốc (nhịn ăn), dưỡng sinh, khí công,… lấy thân mình làm lò luyện, luyện tinh thành khí, luyện khí thành thần, luyện thần trở về hư vô (Đạo). Con người, cũng như vạn vật, là từ “Đạo” mà sinh ra; cho nên tu luyện là trở về với “Đạo”.

  1. Sự thâm nhập và phát triển của Đạo giáo ở Việt Nam

2.1. Đạo giáo thâm nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỉ II. Sách Đạo Tạng kinh ghi: “Sau khi vua Hán Linh đế băng hà, xã hội (Trung Hoa) rối loạn, chỉ có đất Giao Châu là yên ổn. Người phương Bắc chạy sang lánh nạn rất đông, phần nhiều là các đạo sĩ luyện phép trường sinh theo cách nhịn ăn”. Nhiều quan lại Trung Hoa sang ta cai trị đều sính phương thuật (như Cao Biền đời Đường từng lùng tìm yểm huyệt, hi vọng cắt đứt các long mạch để triệt nguồn nhân tài Việt Nam).

Trong khi Nho giáo chưa tìm được chỗ đứng ở Việt Nam thì Đạo giáo đã tìm thấy ngay những tín ngưỡng tương đồng có sẵn từ lâu. Từ xa xưa người Việt Nam từ miền núi đến miền xuôi đã rất sùng bái ma thuật, phù phép; họ tin rằng các lá bùa, những câu thần chú… có thể chữa bệnh, trị tà ma, có thể làm tăng sức mạnh, gươm chém không đứt… Tương truyền Hùng Vương là người giỏi pháp thuật nên có uy tín thu phục 15 bộ lập nên nước Văn Lang. Ngay các nhà sư cũng phải học các phép trị bệnh, trừ tà thì mới đưa Phật giáo thâm nhập sâu vào dân chúng vốn có tín ngưỡng ma thuật được. Vì vậy, dễ hiểu là tại sao Đạo giáo, trước hết là Đạo giáo phù thủy, đã thâm nhập nhanh chóng và hòa quyện dễ dàng với tín ngưỡng ma thuật cổ truyền tới mức không còn ranh giới. Do vậy mà tình hình Đạo giáo ở Việt Nam rất phức tạp, khiến cho không ít nhà nghiên cứu đã quy hết mọi tín ngưỡng cổ truyền Việt Nam cho Đạo giáo và, ngược lại, người Việt Nam sính đồng bóng, bùa chú thì lại chẳng hề biết Đạo giáo là gì.

Một sự khác biệt nữa không kém phần quan trọng giữa Nho giáo và Đạo giáo là: Trong khi Nho giáo vốn mang bản chất của một công cụ tổ chức xã hội và, với Hán Nho, nó đã thực sự trở thành vũ khí của kẻ thống trị thì Đạo giáo, trên cơ sở thuyết vô vi, lại sẵn mang trong mình tư tưởng phản kháng giai cấp thống trị. Vì vậy, cũng giống như ở Trung Hoa, vào Việt Nam, Đạo giáo (phù thủy) đã được người dân sử dụng làm vũ khí chống lại kẻ thống trị. Ngay khi thâm nhập, nó đã là vũ khí chống lại phong kiến phương Bắc rồi. Phong trào nông dân khởi nghĩa ở các tỉnh Nam Trung Hoa vào thế kỉ II đều có liên hệ với các cuộc khởi nghĩa nông dân hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân. Vào thời kì phong kiến dân tộc ở Việt Nam, Đạo giáo thường được dùng để thu hút nông dân tham gia vào các cuộc bạo động chống lại cường hào ác bá địa phương và quan lại trung ương: Thời Lí Nhân Tông có Lí Giác cầm đầu cuộc bạo động ở Diễn Châu (Nghệ An), là kẻ học được phép lạ có thể “biến cỏ cây thành nguồn”. Năm 1379 (đời Trần Phế Đế), ở Bắc Giang có Nguyên Bổ xưng vương, hiệu là Đường Lang Tử Y. Đời Hồ có Trần Đức Huy dùng phương thuật thu hút đông đảo người theo, bị Hồ Quý Li dẹp năm 1403.

Thời chống Pháp, để đối phó với kẻ địch có ưu thế về súng đạn, nhiều cuộc khởi nghĩa đã tích cực sử dụng ma thuật phù thủy làm vũ khí tinh thần: Mạc Đĩnh Phúc (cháu 18 đời nhà Mạc) khởi nghĩa năm 1895 ở các tỉnh miền biển Bắc Bộ, tuyên truyền là mình có phép làm cho súng Pháp quay trở lại bắn Pháp. Võ Trứ (quê ở Bình Định) và Trần Cao Vân (quê ở Quảng Nam) lãnh đạo nghĩa quân người Kinh và người Thượng đeo bùa mang cung tên, dao rựa đánh giặc. Nguyễn Hữu Trí đóng trụ sở ở núi Tà Lơn (Nam Bộ), tôn Phan Xích Long làm Hoàng đế, đồn rằng ông là con vua Hàm Nghi và có nhiều phép màu, nhất là phép làm cho súng địch không nổ. Rồi phong trào lập “hội kín” ở Nam Kì lôi cuốn hàng vạn người tham gia…

2.2. Bên cạnh việc thờ Ngọc Hoàng Thượng đế, Thái Thượng Lão quân, thần Trấn Vũ (Huyền Vũ), Quan Thánh đế (Quan Công), thần điện của Đạo giáo phù thủy Việt Nam còn thờ nhiều vị thần thánh khác do Việt Nam xây dựng. Trần Hưng Đạo được coi là có tài trừ tà ma cứu nạn cho dân nên được tôn là Đức Thánh Trần; Liễu Hạnh được coi là nàng tiên có nhiều phép thần thông luôn phù hộ cho dân nên được tôn là Bà Chúa Liễu. Trong tâm thức dân gian, Thánh và Chúa luôn sóng đôi bên nhau (Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ) – đó chính là sản phẩm của lối tư duy cặp đôi theo triết lí âm dương (xem II-§ 1.4).

Thờ đức Thánh Trần và Tam phủ, Tứ phủ thường gắn liền với đồng cốt (đồng bóng). Người thờ đức Thánh Trần gọi là Thanh đồng (Ông đồng); còn các Bà đồng thì thờ Tam phủ, Tứ phủ, gọi là thờ Chư vị. Lên đồng còn gọi là hầu bóng, mỗi lần người ngồi đồng được thần thánh nhập vào phán bảo hoặc chữa trị… gọi là một giá đồng. Những phụ nữ số phận long đong lận đận được khuyên là có số thờ phải đến đội bát hương ở đền hay phủ, xin làm con công đệ tử của thánh thần.

Ngoài ra, các pháp sư còn hay thờ các thần: Tam Bành, Độc Cước, Huyền Đàn, ông Năm Dinh, Quan Lớn Tuần Tranh.

Tam Bành tương truyền vốn là ba bọc sừng-sỏ-sắt do một bà me quê ở Vụ Bản (Nam Định) sinh ra vào thời vua Lê Thánh Tông. Bà mẹ sợ quá đem chôn. Rồi Sừng-Sỏ-Sắt hóa thành tinh, rất linh thiêng và có công đánh giặc nên được vua phong là Tam Danh đại tướng âm binh. Các pháp sư thờ hình người có ba đầu gọi là Tam Danh, dần dấn đọc chệch thành Tam Bành.

Thần Độc Cước là con một pháp sư nổi tiếng ở Từ Sơn (Bắc Ninh). Tương truyền đứa trẻ mới ba tuổi đã đánh trống động tới Trời, Trời sai thiên tướng xuống lừa lúc nó ngủ chém xẻ đôi người. Bố nó đem chôn, tương truyền 100 ngày sau đứa bé sống lại, chỉ còn đầu mình với một tay một chân nên được gọi là Độc Cước. Ở núi Sầm Sơn (Thanh Hóa) có đến thần Độc Cước thờ một vết bàn chân lớn in thủng mặt đá; tương truyền thần bắt tà ma rất linh ứng.

Huyền Đàn là vị thần tương truyền xuất hiện vào thời Đinh, cưỡi cọp đen, múa gươm, đánh đâu thắng đó, được Ngọc Hoàng xếp vào sẽ 12 thiên tướng.

Ông Năm Dinh (hay Ngũ Dinh quan lớn) là thần Ngũ Hổ có sức mạnh trấn trì tà ma. Ông Năm Dinh được thờ trong điện dưới dạng bức tranh Ngũ Hổ.

Quan lớn Tuần Tranh tương truyền là một cặp rắn thần nở từ trứng do hai ông bà già ở Tứ Kì (Hải Dương) nhặt được. Lớn lên, cặp rắn quấn quýt lấy hai người nhưng lại hay ăn gà. Sợ hàng xóm biết, ông phải đem ném chúng xuống sông Tranh, nơi đó nước trở nên xoáy mạnh và rất linh thiêng. Quan lớn Tuần Tranh được thờ trong điện dưới dạng hai con rắn bằng giấy (là Thanh Xà và Bạch Xà – đặt tên theo màu Ngũ hành!).

Các đạo sĩ từng được nhà nước phong kiến hết sức coi trọng chẳng ném gì tăng sư. Các vị qua thời Đinh, Lê, Lí, Trần đều chọn cả tăng sư lẫn đạo sĩ vào triều làm cố vấn; bên cạnh tăng quan, có cả chức đạo quan.

Vào thế kỉ XVII, dưới thời vua Lê Thần Tông, xuất hiện một trường phái Đạo giáo Việt Nam có quy mô rất lớn gọi là Nội Đạo. Người sáng lập ra Nội Đạo là Trần Toàn, quê ở Quảng Xương (Thanh Hóa), nguyên là một quan to triều Lê, không theo nhà Mạc, từ quan về quê tu tiên, giúp dân trừ ma quỷ suốt hai vùng châu Hoan và châu Ái. Ông mở đạo trường ở Hoằng Hóa, có 10 vạn tín đồ, được tôn là Thượng sư. Tương truyền ông từng dùng bùa phép chữa khỏi bệnh mọc lông cọp cho vua Lê Thắn Tông, cứu sống con Chúa chết đã hai ngày. Vua và Chúa sai dựng nhà ở quê cho Toàn và tự tay vua ghi ba chữ Nội Đạo Tràng. Ba người con trai của Toàn đều giỏi đạo pháp, được tôn là “Tam Thánh”. Phái đạo này phát triển vào Nghệ An và ra Bắc; đến tận thế kỉ XX hãy còn tồn tại nhiều trung tâm ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội. Thậm chí tới sau chiến tranh thế giới lấn thứ nhất, ở Giảng Võ (Hà Nội) hằng năm còn có tới mấy vạn tín đồ đến trường Nội đạo để cúng lễ, chữa bệnh!

2.3. Trong Đạo giáo thần trên thì phái luyện thuốc trường sinh (ngoại dưỡng) chủ yếu phổ biến ở Nam Trung Hoa nhưng phần lớn thần sa mà các đạo sĩ Trung Hoa sử dụng để luyện đan đều được các lái buôn mua từ Giao Chỉ (thường là phải đổi bằng vàng). Năm 42, Mã Viện đưa quân sang Giao Chỉ, ngoài việc dẹp cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, còn có mục đích tìm kiếm các mỏ thần sa. Sau trận chiến tại chiến trường Mê Linh – Cấm Khê khiến Hai Bà Trưng phải tự vẫn tại cửa sông Hát, rồi đàn áp đẫm máu bộ phận còn lại của nghĩa quân ở Cửu Chân (Thanh Hóa), Mã Viện tiếp tục tiến sâu vào tận vùng mà nay là Quảng Nam và đã tìm thấy mỏ thần sa khổng lồ tại Cù Lao Chàm, mỏ này khai thác đến hết đời Tống mới cạn. Đời Đông Tấn (326-334), Cát Hồng từ chối tước vị do triều đình tấn phong, chỉ xin sang làm tri huyện ở Câu Lậu (Hải Dương) để tìm đan sa luyện thuốc. Thế kỉ XIII (đời Nguyên), nhà sư Thích Đại Sán đi du khảo vùng Đông Dương đã xác nhận rằng xứ Giao Chỉ là nơi có nhiều thần sa, và mỏ thần sa ở Cù Lao Chàm là lớn nhất. Đạo giáo thần tiên ở Việt Nam chỉ xuất hiện lẻ tẻ, cá biệt, như trường hợp Đạo sĩ Huyền Vân tu ở núi Phụng Hoàng (Hải Dương) đời Trần Dụ Tông (ở ngôi 1341-1369), được vời vào triều để dâng vua thuốc trường sinh.

Mang tính phổ biến trong Đạo giáo thần tiên ở Việt Nam là phái nội tụ. Người Việt thờ Chủ Đồng Tử (người thời vua Hùng, tương truyền đã từng lên núi tu luyện, được ban gậy thần và sách ước, sau thành tiên bay lên Trời) làm ông tổ của Đạo giáo Việt Nam, gọi là Chử Đạo Tổ. Lịch sử và truyền thuyết Việt Nam từng ghi lại sự tích nhiều đạo sĩ tu luyện thành tiên, tương truyền có nhiều phép lạ.

Đời Trần Thuận Tông (ở ngôi 1388-1398) có Từ Thức quê ở Thanh Hóa, khi làm quan ở Tiên Du (Bắc Ninh) đã cứu giúp một người con gái, sau về quê ở ẩn tương truyền thành tiên và được kết hôn với tiên nữ Giáng Hương là cô gái mà ông cứu giúp khi xưa. Đời Trần-Hồ có người tu tiên ớ núi Nưa (Nông Cống, Thanh Hóa), người đương thời gọi là Hoàng Mi tiên sinh, từng tiên đoán chính xác hậu vận của cha con họ Hồ ; tương truyền đến thời Lê, Nguyễn sau này thỉnh thoảng vốn có người còn gặp.

Đời Lê có thư sinh Trần Tú Uyên tương truyền là có may mắn kết duyên với tiên nữ Giáng Kiều tại xóm Bích Câu (Hà Nội), sau hai vợ chồng cưỡi hạc bay lên trời; tại nền nhà cư dân lập đền thờ (gọi là “Bích Câu đạo quán”) tương truyền rất linh thiêng, từng báo mộng cho vua Lê đánh thắng quân Chiêm Thành. Vua Lê Thánh Tông (ở ngôi 1460-1497) có lần đi chơi Hồ Tây đã xướng họa thơ văn cùng một thiếu nữ xinh đẹp rồi đưa lên xe rước về cung, tương truyền nàng chính là tiên nên khi về đến cửa Đại Hưng (nay là cửa Nam, Hà Nội) thì bay lên trời mất. Vua thương nhớ cho cất tại đó một lều gọi là Vọng tiên lâu (nay là “Vọng tiên quán” ở 120B Hàng Bông); người đời đặt tên cho cô là Bồi Liễn tiên nương (= nàng tiên đi cùng xe vua). Đời Lê Thần Tông (ở ngôi 1619-1643 và 1649-1662) có Phạm Viên quê ở Nghệ An lên núi Hồng Lĩnh hái thuốc tương truyền đã gặp tiên học đạo, có tài biết trước hỏa hoạn, biết trước ngày cha từ trần, từng cho một lão ăn mày cây gậy có phép lạ tự xin được tiền để sống…

Thanh Hóa đời Nguyễn đã sưu tầm và ghi lại sự tích 13 ông tiên và 14 bà tiên Việt Nam trong sách Hai chân biên (xuất bản năm 1847).

Giới sĩ phu Việt Nam xưa thường cùng nhau tổ chức phụ tiên (hay cầu tiên, cầu cơ) để cầu hỏi cơ trời, hỏi chuyện thời thế, đại sự cát hung… Nhiều đàn phụ tiên từng nổi danh một thời như đền Ngọc Sơn (Hà Nội), đền Tản Viên (Sơn Tây), đền Đào Xá (Hưng Yên)… Nhiều nhà Nho nhà cửa khang trang đã lập đàn phụ tiên tại tư gia. Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền (1868-1925) khi làm đốc học Ninh Bình thậm chí đã từng lập đàn phụ tiên ngay tại công đường. Đầu thế kỉ XX, các đàn cầu tiên (gọi là thiện đàn) mọc lên khắp nơi đã đóng một vai trò quan trọng trong việc cổ vũ tinh thần dân tộc và yêu nước, chống Pháp. Nhiều đàn cầu cơ ở miền Nam đã là một trong những tiền đề dẫn đến sự hình thành đạo Cao Đài.

Để lập đàn chỉ cần đặt một án nhỏ trên để một đỉnh đốt trầm, một bình cắm hoa; trước án bày một mâm đựng gạo kín khắp mặt mâm và một cành đào vót nhọn, gọi là hạc bút để viết trên mâm gạo. Một nho sinh sức học tầm thường chỉ cần dù biết viết, đầu phủ khăn điều che kín mặt, tay cầm hạc bút chờ sẵn (gọi là cầm kê). Sau khi đốt hương trầm cầu khấn, nếu có tiên giáng bút thì người cầm kê, đầu vẫn trùm khăn kín, sẽ viết rất nhanh từng chữ, hai người ngồi phụ hai bên sẽ đọc to và chép ra giấy. Nếu có chữ nào đọc sai thì kê bút sẽ gõ vào mâm và viết lại. Cứ thế đến hết bài thơ.

Tương truyền khi người cấu tiên hỏi những việc thuộc thiên cơ mà tiên thánh không thể tiết lộ (công danh, thi cử, đề thi…) thì chỉ sau khi việc xong mới vỡ lẽ rằng nội dung giáng but đã nói rất rõ và chính xác. Nhất Thanh (1973) có kể về trường hợp hai bạn học có tiếng hay chữ ở Thanh Hóa phụ tiên hỏi đề khoa thi Hương thời Thiệu Trị, mãi đến gần sáng đêm thứ hai, tiên thánh mới giáng bút ba chữ “Đông chấn thù” rồi thăng ngay. Hai người suy nghĩ cả tháng trời mà vẫn không hiểu ra sao vì chưa từng gặp ba chữ ấy trong sách vở của Bách gia bao giờ. Đến khi vào thi thấy đề ra là “Đông thú Trần” mới vỡ lẽ, vì nếu giáng là “Đông trấn thù” (trấn và chấn khác nhau cả nghĩa và mặt chữ) thì dã có thể nói lái mà đoán được rồi.

Gần với Đạo giáo thần tiên là khuynh hướng ưa thanh tĩnh, nhàn lạc. Hầu hết các nhà nho Việt Nam đều mang tư tưởng này. Sinh không gặp thời, gặp chuyện bất bình trong chốn quan trường hay khi về già, các cụ thường lui về ẩn dật, tìm thú vui nơi thiên nhiên, bên chén rượu, khi cuộc cờ, hay làm thơ xướng họa – sống một cách điều độ với tinh thần thanh thản trong khung cảnh thiên nhiên trong hành chính là một cách dưỡng sinh vậy. Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phan Huy ích, Nguyễn Công Trứ… đều là những ví dụ điển hình.

Ở Việt Nam, Đạo giáo như một tôn giáo đã tàn lụi từ lâu. Dấu vết hoạt động cuối cùng của nó là sự kiện một nhóm tín đồ xuất bản vào năm 1933 ở Sài Gòn một bộ sách mang tên Đạo giáo viết theo tinh thần tôn giáo gồm 3 tập. Đến nay, những hiện tượng như đồng bóng, đội bát nhang, bùa chú… tuy vẫn lưu truyền, nhưng chúng chỉ còn là những di sản của tín ngưỡng dân gian truyền thống mà thôi.


Truyện: MA PHỒNG

 


Ma Phồng: Ở trong truyền thuyết, cổ tích và sự thật thì ở nước Lào đã có lâu rồi, ma Phồng cũng là phụ nữ nửa người nửa tâm linh như Ma Lai. Đêm đêm cũng đi kiếm ăn đồ dơ bẩn thối tha, phân gà, phân vịt heo... Thiên nhiên đời sống hàng ngày thì cũng không khác gì ma Lai, ban ngày cũng sinh sống bình dân giống như người làng thôi. Ma Phồng cũng có một điều để ý của những người thành ma Phồng trong khi đời sống ban ngày ma Lai thì cổ có 3 ngấn, còn ma Phồng thì có cái mũi đỏ như người bị cảm quanh năm ngày tháng, nếu hàng xóm láng giềng không biết thì cô cũng bình dân thôi, chỉ có ban đêm mới trở thành nửa người nửa tâm linh. Ma Phồng khi đến giờ linh trong cõi nửa đêm, đi xuống bếp lấy cái mũi đụng vào 3 hòn đá để cái nồi đó, đến khi cái mũi có ánh sáng màu xanh hiện ra rồi đi kiếm ăn đêm, nhiều ma Phồng cứ đến giờ đó trong nửa đêm thì ánh sáng màu xanh sẽ hiện ra một mình. Ánh sáng màu xanh bằng hai đầu ngón tay út, sáng xanh to lên được một chút thì rỏ dài giọt xuống rồi ngắn lại và nhỏ như khi đầu tiên, mình có thể ngó thấy từ xa trong đêm tối cả mấy trăm thước với nửa đêm thanh tĩnh và trong lành trong đêm mà ma Phồng đi ra kiếm ăn đêm, ánh sáng đó cứ xanh và rỏ giọt xuống vậy cả đêm cho đến khi sau kiếm ăn và trở về nhà nằm mới thôi, ánh sáng xanh và rỏ đó báo hiệu cho người Lào ở miền quê biết đó là trong làng có ma Phồng, nếu ai biết hay bắt gặp lúc thì ban ngày cô hay tránh những người biết cô là ma Phồng. Ma Phồng nửa người nửa tâm linh đó, sống trong đời sống thiên nhiên với xóm làng hàng ngày, trong khi đêm xuống ma Phồng không có hại tới tánh mạng người, không có đụng chạm ai, chỉ có đi kiếm ăn đồ dơ bẩn trong giờ linh thiêng đó rồi về, ma Phồng không có đi kiếm ăn xa nơi nào chỉ có lẩn quẩn ở trong làng mình. Trong làng Pak Ou (luang prabang), khi tôi còn ở bên Lào trước thập niên 1980, một làng không có đường xe xa thành phố cỡ 50 cây số phải đi bằng thuyền, tôi quen biết một bà cô ngồi bán chuối trước nhà, cái mũi cô đỏ triền miên và mấy người trong làng nói cho tôi nghe cô là ma Phồng và cuối cùng cô cũng nói:

- Đó đối với đời sống bên ngoài là cơn ác mộng khi mơ và đó cũng là duyên kiếp dòng họ của mình, mình đâu có hại ai. Cả làng ai cũng biết, theo tôi thấy chẳng ai cho cái quan tâm đó, cũng chỉ là một cốt chuyện thiên nhiên thường thường ở bên Lào thôi.....

CẢ ĐỜI BÁI THẦN, VẪN THIẾU MỘT NÉN NHANG

 Tử Kính (dịch)

Trong đại điện của một đạo quán nguy nga, một thiếu niên đang hướng về phía tổ sư kính hương cầu nguyện. Anh cắm ba nén nhang vào lư hương, nhỏ giọng cầu nguyện: “cầu nguyện tổ sư phù hộ cho con khoa cử trúng, gia quan tiến tước, báo quốc hoàn hương. “nói xong lại quỳ lạy vài lần, lúc này mới đứng dậy rời đi.

Tổ sư nhìn thiếu niên phía dưới cười mà không nói, Kim Đồng bên cạnh hỏi: “Tổ sư, thiếu niên này mười phần thành kính, lòng thành thiện nguyện, vì sao người không ban ân điển?” Tổ sư lại cười, chậm rãi nói: “còn thiếu một nén nhang. ”

“Thiếu một nén nhang?” Kim Đồng nhìn ba nén hương vẫn còn phảng phất trong lư hương, trầm tư không hiểu.

Chớp mắt đã qua mười năm, thiếu niên ngày nào nay đã trưởng thành thành thanh niên tuấn tú, tư thế oai hùng bừng bừng. Khoa cử năm đó tuy rằng anh ta vẫn chưa trúng, nhưng ngược lại đầu bút tòng cầu, trở thành một viên võ tướng, dưới quân trung lập chiến công hiển hách. Lần này trở về quê hương, chính là đặc biệt trở về làm đám cưới.

Thanh niên ngày nào, giống như trước đây, thắp lên ba cây đàn hương, cung kính quỳ lạy nói: “cầu tổ sư phù hộ hạ quan kết nhân duyên, thê tử hiền lành, vợ chồng hòa thuận. Nói xong lại cung kính dập đầu bái lạy.

Kim Đồng nhìn thấy hết sức cảm khái, quay đầu lại nhìn thấy tổ sư vẫn cười mà không nói, không khỏi nói: “Tổ sư, vì sao ngươi lại không cho ban cho hắn thành ý nguyện?” Tổ sư cười nói: “vẫn còn thiếu một nén nhang. ”

Đảo mắt lại qua mười năm, thanh niên đã bước vào tuổi trung niên, lúc này anh ta vào đạo quán đại điện, trên trán đã mơ hồ hiện ra mấy đạo nếp nhăn. Bởi vì bị thê tử gia tộc liên lụy, đại tướng quân ngày xưa uy phong lẫm lẫm, lúc này đã bị giáng chức làm tiểu úy địa phương, buồn bực mà không có chí.

Nay đã đến tuổi trung niên, ông thắp hương dập đầu, thấp giọng cầu nguyện, cầu nguyện cho con cái của mình có thể phấn đấu đọc sách, hoàn thành sự nghiệp còn dang dở của mình. Kim Đồng nhìn hắn, lại nhìn tổ sư cười mà không nói, trong lòng thở dài: “rốt cuộc vẫn còn thiếu một nén nhang.

Lại qua mười năm tiếp theo, người trung niên đã dần dần phát triển bước vào tuổi già. Lúc này hắn sớm đã giải giáp quy điền, an cư ở nông thôn, không còn nguyện vọng lớn như trước nữa.

Lúc này, tuổi đã già cung kính bước vào Đạo quán thắp lên ba nén đàn hương, dập đầu bái lạy nói: “Tổ sư, lúc trước đến ước nguyện ngài chưa từng thỏa mãn ta, nhưng lần này lại xin ngài nhất định có thể thành toàn hiếu tâm của ta. Nhớ năm đó cha tôi mất sớm, là mẹ già trong nhà vất vả nuôi nấng tôi trưởng thành. Hiện giờ cao đường tuổi tác đã cao, chỉ mong lão nhân gia thân an vô sự, nay chỉ cầu như vậy thì không còn cầu gì nữa. ”

Kim Đồng nghe vậy rất vui mùng và cảm động, nghe nói như vậy đã không đành lòng. Quay đầu đi xem tổ sư, lại phát hiện tổ sư đã lộ ra vẻ tươi cười, khẽ gật đầu nói: “vậy thì như ngươi mong muốn. ”

Lão nhân đi ra khỏi đạo quán, còn chưa về đến nhà, tin vui đã truyền đến từ xa, hai đứa con trai của hắn thế nhưng đồng thời văn võ trạng nguyên đứng ở triều đình, hơn nữa triều đình còn ban chiếu thư, rửa sạch oan khuất của hắn, để cho hắn phục hồi vị trí, lại thăng cấp ba.

Nhưng lần này, ông ta cuối cùng đã không muốn đi nhậm chức. Ông đã quyết định ở nhà và chăm sóc người mẹ già của mình kể từ đó. Về phần trong Đạo quán đại điện vì mẫu thân cầu nguyện một nén nhang kia, đương nhiên không thể không ban cho điều ước nguyện

BAN ĐÊM ĐI LẠI, DU LỊCH Ở NÚI RỪNG CẦN CHÚ Ý CẤM KỊ 12 ĐIỀU SAU

 

Ngày nay, xã hội phát triển, nhu cầu đi lại, du lịch của mọi người cũng gia tăng, nhất là đi du lịch về chốn núi rừng. Đưới đây là một chia sẻ với mọi người mười hai điều cấm kỵ khi phải đi lại trên đường đêm. Những điều cấm kỵ này, sau khi nghe xong nhất định phải chú ý, nhất là khi đi đường núi hoang vắng.

Một là, không mặc quần áo có tên riêng của bạn

Thứ hai, không nên huýt sáo  

Một số người rất thích huýt sáo, nhất là khi đi một mình trong đêm, lại càng hay huýt sáo để tránh sợ hãi, song đó là quan niệm sai lầm. Có thể huýt sáo, song khi đi đêm nên tránh, đặc biệt là khi đi bộ đường đêm huýt sáo, huýt sáo trong đêm, các linh thể hoạt động trong đêm tưởng rằng chúng ta đang bất kính, rất dễ bị âm tà xâm phạm, không thể không đề phòng.

Thứ ba, vào đêm vào núi không nói về ma quỷ

Vùng núi không giống như đồng bằng, dân cư thưa thớt. Sinh linh đông đảo, đàm luận chuyện ma quỷ quái, dễ bị trêu chọc. Buổi tối không nói về ma quỷ, đặc biệt là ở những nơi rừng núi, khu vực gần sông suối, nơi đó thường hay có các linh thể lui tới lấy linh khí của trời đất, hoặc là nơi giao lưu giữa linh vực âm và dương. Do đó, ban đêm không nên nói chuyện về ma quỷ, tránh hợp âm với linh lực âm khí.

Thứ tư, có thể tránh thì tránh không hại sinh linh

Khi vào rừng, gặp chồn, rắn và các loài động vật khác, tốt nhất không nên sát hại, nếu tránh được nên tránh, tuyệt đối không sát hại bất kì một sinh linh nào ở núi rừng.

Thứ năm, không vỗ đầu và vai của một người khác

Đạo gia cho rằng, mỗi người có ba ngọn lửa ở đầu và hai vai, khi vỗ vào đầu hoặc vai người khác, vô tình đã làm ảnh hưởng đến các “Hoả khí thần” của người đó, khiến tổn hao nguyên thần của con người.

Sáu, đi qua ngôi mộ, tránh chỉ trỏ vào ngôi mộ.

Bảy, lốp xe không dính máu

Hãy cẩn thận trước khi lái xe, đặc biệt là kiêng kỵ có máu trên lốp xe. Nếu có, nó có thể được rửa sạch bằng nước sạch, rượu hoặc nước tiểu. Tốt nhất, nếu có thể trên xe nên luôn luôn có rượu, hoặc chu sa để khi cần thiết có thể dùng bất cứ lúc nào.

Tám, bát tự thiếu khuyết, yếu ớt, chủ yếu là các can chi âm  không nên lái xe đêm đi đường núi

Bát tự yếu, thân thể suy yếu dễ dàng chiêu tà, nếu như là một mình, tốt nhất không nên lái xe đêm đi đường núi!

Chín, không lái xe sau cơn ác mộng

Trừ phi là người thân thể đặc biệt cường tráng, bình thường sau khi gặp ác mộng, đều sẽ ảnh hưởng đến hồn phách của người, làm cho người ta hồn phách bất định. Lái xe trong tình huống hồn phách bất định, và lái xe mệt mỏi là như nhau, dễ dàng xảy ra tai nạn! lái xe vào ban ngày hoặc trong thành phố không phải là vấn đề lớn, nhưng lái xe trên đường đêm và đường núi, nó không phải là tốt.

Mười, vào ban đêm, nghe thấy tiếng cười của cú

Vào ban đêm, không sợ cú kêu, chỉ sợ cú cười. Dân chúng đều rất tin tưởng câu nói này, bởi vì nó đích xác rất linh nghiệm, khi cú ở nơi nào phát ra loại tiếng cười này, nơi đó rất nhanh sẽ chết người. Không phải vì cú là vật mang điềm xấu, điề, gở, mà vì khứu giác nhạy bén của nó. Bản thân cơ thể con người là một chất điện giải bao gồm axit và kiềm, khi cơ thể con người sắp chết, chất điện giải tăng tốc phân hủy, đó là, tốc độ phân hủy của sự trao đổi chất lớn hơn nhiều so với tốc độ tổng hợp. Lúc này sẽ tản mát ra một loại hương vị, chính là mùi thịt thối.

Cú là động vật ăn thịt, khứu giác rất nhạy cảm, sẽ bay đến tìm thức ăn. Nó có thể ngửi thấy mùi thức ăn nhưng không thể tìm thấy miếng thịt, nó sẽ phát ra tiếng kêu lo lắng. Đó là tiếng cười của một con cú theo dân gian. Vấn đề này, Đạo gia cũng có nhiều kinh điển và tài liệu nói rất nhiều,

Mười một, ngọc bội hay phù trường kỳ đeo vô duyên vô cớ liền đứt ra

Cái này cùng rơi xuống đất, hoặc là dây thừng bị gãy phá bản chất không giống nhau, ngọc vỡ kêu ngăn một tai họa, biểu thị là tai nạn đã qua, nhưng nứt ra cùng ngã không phải là một chuyện, có nghĩa là ngọc đều không ngăn được tai nạn sắp tới.

Mười hai, vô cớ xuất hiện chóng mặt hoảng hốt, hoặc nhịp tim tăng kịch liệt

Loại trừ các yếu tố bệnh như lượng đường trong máu thấp và tăng huyết áp. Thậm chí có một số người sẽ bị ma xui quỷ khiến làm những chuyện không giải thích được, loại này thường xuyên báo hiệu người thân có đại tai. Nếu bạn gặp phải vấn đề này trước khi đi xa, nói chung là báo hiệu cho thấy bản thân hoặc người thân có vấn đề sẽ xảy ra, tất nhiên, để ngăn chặn là báo hiệu thảm họa của riêng mình, đề nghị thay đổi thời gian đi lại hoặc hủy bỏ kế hoạch.

Trên đây, là những điều cấm kị khi đi đường vào ban đêm, hoặc đi du lịch ở chốn núi rừng, theo quan niệm của Đạo giáo.


Truyện: MA LAI

Ma lai: Hai chữ Ma Lai đã lang thang trên truyền thuyết của bao nhiêu nước trong thế kỉ thứ 19, cỡ hai trăm năm đã qua, trong truyền thuyết: Việt Nam, Lào, Thái Lan, Campuchia, Miến Điện, Mã Lai, Indonesia. Ma lai là một hình nhân nửa người nửa tâm linh, ma Lai là phụ nữ cổ có ba ngấn, ngấn ở giữa sâu hơn hai ngấn trên và dưới, trên đường tâm linh Ma Lai chỉ có đem đầu với bộ phận tiêu hóa đi theo thôi, còn thân thể thì vẫn ở nhà. 



Ma Lai sợ ánh nắng mặt trời, bụi tre gai, nơi rậm rạp vì sợ vướng tóc hay vướng ở đó qua đêm nó sẽ chết. Ma Lai đi tìm kiếm ăn phân người, phân súc vật, những đồ thối dơ bẩn, làng nào có Ma Lai thì không nên mặc áo trắng vì nó ngó thấy ruột và phân nó thèm và hay quấn tíu lấy mình. Em gái Ma Lai yêu anh chàng nào độc thân mà bị Ma Lai ăn phân chỉ có một đường làm ông xã mới thoát cái chết được. Vào làng nào có ma Lai thì phần nhiều người ta mặc áo nâu hay màu đen để tránh khỏi cái thèm thuồng của ma Lai, mỗi lần cô em ma Lai mà rút đầu đi phần nhiều hay có mùi hôi thối, sau khi trở về thân trong đêm cũng phủ mùi hôi thối. Ma Lai nếu trong đêm rút đầu ra rồi mà có ai lật úp cái xác xuống thì ma Lai không có trở vào thân được nữa và đến sáng là chết nên ma Lai rút đầu những đêm thanh tĩnh nhất. Miền Thái lan, Mã lai, indonesia theo truyền thuyết miền đó cũng theo nhau kể cổ tích dân gian, còn đóng thành phim và hình ảnh bao la về ma Lai nhưng nơi miền đó người ta sẽ nói ma Lai đi giết người ăn thịt người hay giết trâu, bò, ăn lòng trâu lòng bò. Đó là truyền thuyết và lời kể lại từ miền đó. Bao nhiêu nước vẫn in chuyện Ma Lai trên đường văn hóa về tâm linh và cổ tích dân gian khắp nơi.....